Vai trò của dân trong cuộc biểu tình ngày 17/8/1945 tại Hà Nội

Lúc đầu, chủ trương của Việt Minh Hà Nội là phá cuộc biểu tình ngày 17/8 do Tổng hội công chức tổ chức. Sáng 17/8, thấy phong trào quần chúng lên quá cao, Ủy ban Khởi nghĩa đã kịp thời thay đổi chủ trương: biến cuộc biểu tình của Tổng hội công chức thành cuộc biểu tình ủng hộ mặt trận Việt Minh. Báo Đông Phát số 6094 ngày 17/8/1945. Trên trang đầu có bài: “Cuộc biểu tình lớn tại Nhà hát thành phố chiều hôm nay”. Cuộc biểu tình của công chức tổ chức, trước định vào 4 giờ chiều ngày thứ bảy (18/8/45), song vì tình thế gấp bách, nên phải làm ngay hôm nay thứ sáu 17/8/45 theo chương trình đã định sau đây: Chương trình Trước 15 giờ. Các giới tề tựu ở hội quán riêng của từng giới, xếp hàng 5 đi đến nhà Hát lớn. 18 giờ. Các giới tựu về ở trước nhà Hát lớn… 18 giờ 30 Khởi chuông trống, cử nhạc bài Quốc ca. Chào cờ… Toàn thể quốc dân hát bài “Tiếng gọi thanh niên”. Một thanh niên đọc lời hô hào đồng bào. Toàn thể quốc dân hưởng ứng bằng cách hô 4 câu khẩu hiệu: – Quốc dân đoàn kết. – Quốc dân chiến đấu. – Quốc dân hi sinh. – Việt Nam độc lập. 19 giờ. Một thanh niên đọc lời nguyện cho toàn thể quốc dân thề trước cờ tổ quốc”đồng tâm hy sinh chiến đấu cùng giữ nền độc lập cho non sông đất Việt”. Toàn thể quốc dân nắm tay phải giơ lên trời đồng thanh hô “xin thề”. 19 giờ 10. Nổi trống và tù và. Cử những hành khúc. Bắt đầu diễu. Tay cầm tay, đi hàng năm qua các phố Tràng Tiền, ra Khâm sai phủ, về qua trước kho bạc ra trước Thị sảnh , Bờ Hồ, Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Giấy, Quan Thánh, phủ Toàn quyền, đường Cột Cờ, Cửa Nam, Tràng Thi về thẳng Nhà Hát lớn. Làm lễ hạ cờ xong, hô khẩu hiệu và giải tán. Ý kiến ông Lê Trọng Nghĩa (nguyên thành viên Ủy ban Khởi nghĩa). Trên một số bài viết, trong một số lần giao lưu, ông Lê Trọng Nghĩa cho biết: “ Chiều 15-8-1945, có tin Nhật đầu hàng Việt Minh, các đồng chí Nguyễn Khang và Trần Tử Bình, đại diện xứ ủy Bắc kỳ họp bàn quyết định thành lập Ủy ban Khởi nghĩa Hà nội gồm các ông Nguyễn Khang, chủ tịch, Nguyễn Huy Khôi (Trần Quang Huy), Nguyễn Duy Thân, Lê Trọng Nghĩa, Nguyễn Quyết cùng Trần Đình Long, cố vấn, chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng lúc này, Tổng hội công chức của nội các Trần Trọng Kim đứng ra tổ chức cuộc biểu tình tại nhà Hát lớn Hà nội nhằm mục đích ủng hộ nội các mới dựng lên. Lúc đầu chủ trương của mặt trận Việt Minh là phá cuộc biểu tình này, không phải chỉ phá chủ trương biểu tình mà chính là phá tận gốc chính quyền Trần Trọng Kim. . Sáng 17/8/1945, anh Nguyễn Khang từ Hà Đông ra Hà Nội gặp anh Lê Trọng Nghĩa. Trước sự thôi thúc của quần chúng, các anh linh cảm thấy tình huống có thể trở thành cực kỳ nghiêm trọng. Anh Nguyễn Khang đã xuống nhiều phố để trực tiếp theo rõi cuộc đấu tranh. Thấy phong trào quần chúng khắp Hà Nội lên cao quá sức tưởng tượng, anh Lê Trọng Nghĩa được giao nhiệm vụ vào Hà Đông báo cáo tình hình trên với anh Trần Tử Bình để xin ý kiến chỉ đạo. Cuối cùng, Ủy ban Khởi nghĩa quyết định đồng ý để tổ chức cuộc mít tinh của Tổng hội công chức nhưng phải biến cuộc mít tinh thành cuộc biểu tình của quần chúng cách mạng ủng hộ mặt trận Việt Minh, làm xong phải kịp thời rút ngay, không để quân Nhật, lúc ấy còn đang mạnh, gây thiệt hại. Ủy ban khởi nghĩa đã chỉ đạo các chiến sĩ Việt Minh tổ chức đi cùng các đội thanh niên xung phong, đội tự vệ…trưng cờ đỏ sao vàng, chiếm diễn đàn, đọc lời hiệu triệu của Việt Minh kêu gọi quốc dân làm cách mạng, nhưng vẫn nhấn mạnh “làm xong phải rút ngay”. Một điều không ngờ tới là anh chị em mặt trận Việt Minh được quần chúng dự mít tinh nhiệt liệt ủng hộ tới mức độ rất cao. Cuộc mít-tinh vừa bắt đầu, anh Trần Quang Vận (Trần Lâm, sau là Giám đốc đài Phát thanh và Truyền hình Việt nam) được phân công mang một lá cờ đỏ sao vàng to treo ở trên gác nhà Hát lớn. Chị Nguyễn Khoa Diệu Hồng (sau là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Hà Nội) đọc lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa của Việt Minh. Trước khi lên diễn đàn, thực hiện chỉ thị phải rút ngay sau khi diễn thuyết, chị Nguyễn Khoa Diệu Hồng đã đưa các đồ trang sức quý của mình gửi một anh tự vệ giữ hộ (1). Cả anh Trần Quang Vận và chị Nguyễn Khoa Diệu Hồng đều là người trong Đảng Dân chủ, lúc ấy đã tham gia mặt trận Việt Minh Cuộc mít tinh của Tổng hội công chức đã biến thành cuộc mít-tinh của ta. Bù nhìn huy động đến canh gác cho cuộc mít tinh này hàng trăm lính bảo an có súng ống, không kể các lực lượng cảnh sát khác. Vậy mà tuyệt đại đa số quần chúng hô to các khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh”, “Đả đảo bù nhìn” và tự động xếp thành hàng ngũ dưới những lá cờ đỏ sao vàng…. Anh Nguyễn Khang lên diễn đàn nói đến việc muốn giành được độc lập thật sự, thì phải đánh đổ phát xít Nhật và bọn bù nhìn. Sau đó, cuộc mít tinh biến thành cuộc tuần hành thị uy. Cả anh em lính bảo an cũng vác súng đi theo. Cuộc biểu tình tuần hành này đã diễn biến lớn hơn hẳn kế hoạch đã dự định. Chính phong trào quần chúng đã đẩy cuộc đấu tranh lên cao không lường trước được. Đã trên tuổi 90, ông Lê Trọng Nghĩa còn minh mẫn kể với bạn bè thân hữu nhiều câu chuyện kỷ niệm sâu sắc của ông về cuộc biểu tình ở Hà nội ngày 17/8/1945 mà ông cho rằng “Thành công của cuộc biểu tình lớn ngày 17/8/1945 là một khám phá lớn có thể rút ra nhiều bài học quan trọng cho lịch sử, là một cái mốc vĩ đại cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển của cách mạng ta…”. Hà Nội ngày 18 tháng 8 năm 1945 http://xuanay.vn/tap-chi-xua-nay/vai-tro-quan-chung-trong-cuoc-bieu-tinh-ngay-1781945-tai-ha-noi/

Nhận xét

  1. Lý lịch trích ngang Bùi Hèn :
    Bùi Hiền chưa có phương pháp mà chủ yếu là cần cù, học theo sở thích, và thấy cái gì khó thì lao vào học và giải quyết. Bùi Hiền dùng sách dạy tiếng Nga của Trung Quốc nên vừa có tiếng Nga, vừa có tiếng Trung để học, nhờ vậy cùng lúc ông học được cả hai thứ tiếng. Phương pháp vẫn là theo cách đọc dịch từng cụm từ và học các quy tắc ngữ pháp của từng ngôn ngữ. Lợi thế của sinh viên Việt Nam khi học tiếng Trung là được giao tiếp hàng ngày, cuối tuần đi khiêu vũ cùng bạn Trung Quốc và xem phim tiếng Trung… nên khá tự tin. Tiếng Nga thì ít có điều kiện giao tiếp hơn, chủ yếu giao tiếp cùng thầy cô nên Bùi Hiền còn rụt rè, nhưng do là ngành học chính nên số giờ và số môn học nhiều hơn, vì vậy Bùi Hiền đã tích lũy được vốn tiếng Nga tương đối tốt, và ông đánh giá vốn tiếng Nga của mình thời kỳ này tốt hơn tiếng Trung.
    1955[3]. Sau hai năm học tập tại Trung Quốc, nhà nước ta cần người phiên dịch cho các đoàn chuyên gia Liên Xô sang giúp Việt Nam, nên trong chuyến công tác Trung Quốc năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị cho Đại sứ quán Việt Nam đưa toàn bộ các sinh viên tiếng Nga tại trường Đại học Nhân dân Bắc Kinh về nước, trong đó có sinh viên Bùi Hiền. Về nước, ông được phân công tham gia giảng dạy lớp phiên dịch cấp tốc trong 6 tháng và sau đó về trường Ngoại ngữ mới thành lập ở Hà Nội công tác. Từ đó ông gắn bó với việc giảng dạy và nghiên cứu tiếng Nga.
    Cuối năm 1969, do yêu cầu bồi dưỡng cán bộ, thầy Bùi Hiền được cử đi Liên Xô làm nghiên cứu sinh. Chỉ trong hai năm, ông đã hoàn thành luận án phó tiến sĩ với đề tài “Những từ (danh từ) đồng nghĩa cùng gốc trong tiếng Nga văn học hiện đại”, tuy nhiên việc bảo vệ luận án ông vẫn thực hiện theo đúng thời hạn quy định là 3 năm cho nghiên cứu sinh.
    Năm 1978, theo đề nghị của ông Võ Thuần Nho (Thứ trưởng Bộ Giáo dục), Bùi Hiền được điều chuyển về Bộ phụ trách ngoại ngữ trong Cải cách giáo dục rồi được cử sang làm Phó Viện trưởng Viện Nội dung và Phương pháp dạy học phổ thông thuộc Viện Khoa học giáo dục Việt Nam và ông giữ cương vị này cho đến khi nghỉ hưu năm 1993. Tuy Bùi Hiền đã nhận nhiệm vụ ở cương vị mới, nhưng ông vẫn tiếp tục chịu trách nhiệm biên soạn bộ sách giáo khoa tiếng Nga. Hàng năm, đoàn tác giả Việt Nam tham gia bộ sách, do thầy Bùi Hiền dẫn đoàn, thường có hai chuyến sang Liên Xô bàn bạc, thực hiện các quy trình để xuất bản bộ sách. Năm 1980, ông được Bộ trưởng giao nhiệm vụ tham gia Ban nghiên cứu, chỉ đạo dạy và học ngoại ngữ thuộc Bộ Giáo dục, trực tiếp phụ trách tư vấn, đề xuất với Bộ giải pháp cải cách việc giảng dạy bộ môn ngoại ngữ nói chung[9]. Ông còn là Chủ tịch Hội đồng khoa học thuộc Ban nghiên cứu, chỉ đạo dạy và học ngoại ngữ[10]. Hội đồng có nhiệm vụ theo dõi và đưa ra ý kiến đánh giá, góp ý, thẩm định, đề ra phương hướng cho các bộ môn tự điều chỉnh và tự sửa chữa… Hội đồng khoa học của Ban góp phần thúc đẩy công cuộc cải cách giáo dục về dạy và học ngoại ngữ, giúp cho việc biên soạn bộ sách giáo khoa mới thống nhất về phương pháp, nội dung lẫn tổ chức ấn loát.
    Sau khi hoàn thành bộ sách giáo khoa tiếng Nga vào năm 1986, năm 1987, trong kế hoạch hợp tác giữa hai nước, Bộ Giáo dục Việt Nam cử ông Bùi Hiền, bà Nguyễn Thị Tuyết Lê và Nguyễn Hoàng Oanh[12] đi Liên Xô 3 tháng để hợp tác với Viện Puskin biên soạn từ điển tiếng Nga cho các trường phổ thông Việt Nam[13]. Tuy nhiên, công việc mới triển khai được một thời gian thì tình hình Liên Xô bất ổn, Nhà xuất bản Tiếng Nga dừng in sách tiếng Nga cho người nước ngoài, nên cuốn từ điển đành dang dở. Tuy nhiên, ông vẫn ấp ủ ý định hoàn thành bộ từ điển này.
    Năm 2013, sau nhiều năm nỗ lực, Bùi Hiền đã góp phần tái khởi động hoạt động của Hội Giáo viên ngôn ngữ và văn học Nga tại Việt Nam (Vapryal)[18]. Ông còn thường xuyên tham gia sinh hoạt tiếng Nga tại Trung tâm Khoa học và Văn hóa Nga tại Hà Nội, Phân viện Puskin…

    Lê Thị Hằng
    http://web.archive.org/web/20171226032244/http://ulis.vnu.edu.vn/pgs-ts-bui-hien-tieng-nga-la-cong-viec-suot-doi-toi/

    Trả lờiXóa
  2. Mồ côi mẹ từ 6 tuổi, mồ côi cha từ 12 tuổi, sống tuổi thơ vất vả ở xã Vĩnh Chân, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.[1][4] Sau khi cha mất, năm anh em của ông sống tiếp với người mẹ kế. Vì gia đình nghèo khó, làm không đủ ăn nên ông phải bỏ học hai năm vi.wikipedia.org - Bùi Hiền – Wikipedia tiếng Việt

    Trả lờiXóa

Đăng nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN-CHỨNG LỊCH-SỬ

HẠN CHẾ LƯU THÔNG TIỀN MẶT ! TRÃ LƯƠNG và THANH TOÁN NỘI BỘ SIÊU THỊ.

KH DT Phòng-Cháy CC-KS